Từ quá khứ tới hiện tại: Hành trình của tính nữ trong mỹ thuật Việt Nam (From the Muse to the Gazer: The Journey of the Female Image in Vietnamese Art)
Hơn một thế kỷ qua, hình ảnh người phụ nữ trong mỹ thuật Việt đã đi qua ba tầng biến động. Trong giai đoạn đầu tiên khi mỹ thuật hiện đại Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh, trừ một vài trường hợp ngoại lệ thì ta thấy tính nữ thường gắn liền với sự “được nhìn”: người phụ nữ hiện lên như nàng thơ, đối tượng của chiêm ngưỡng và cảm hứng, biểu tượng của cái đẹp trong thời kỳ mỹ thuật Đông Dương. Sang giai đoạn thứ hai – thời kháng chiến, người phụ nữ trở thành biểu tượng của tinh thần cộng đồng, cùng chia sẻ niềm tin và lý tưởng của dân tộc. Ở đây, sự sáng tạo, tính cổ động và tinh thần nữ giới hòa quyện với nhau, cùng nhìn về một hướng. hướng của thời cuộc, của ý chí tự cường. Khi kháng chiến thành công và xã hội bước vào thời kỳ đổi mới, ta thấy ở tính nữ trong mỹ thuật có một sự bức phá: từ chỗ là đối tượng được ngắm nhìn sang vị thế của chủ thể và nhìn lại. Người phụ nữ giờ đây không còn chỉ là hình tượng của cái đẹp mà còn là người quan sát, phản tư, và sáng tạo – tự phản chiếu chính mình trong mỹ thuật đương đại…
Bài viết này nhằm dõi theo và tri ân hành trình của tính nữ trong mỹ thuật Việt Nam một hành trình xuyên qua nhiều lớp thời gian và quan niệm thẩm mỹ, từ ngoại giới vào nội giới, từ khách thể thẩm mỹ đến chủ thể sáng tạo và tự nhận thức.
Về tính nữ trong văn hoá Việt
Tính nữ trong văn hóa Việt vốn chẳng cần vay mượn từ phương khác, mà là một nguyên lý thẩm mỹ – sinh tồn nội tại, bắt nguồn từ hệ tín ngưỡng bản địa. Theo nghiên cứu di truyền học năm 2019 do GS.TS Nguyễn Thanh Liêm công bố, người Việt có gốc gác từ nền văn hoá Đông Nam Á cổ đại, nơi tín ngưỡng phồn thực, thờ Mẹ và sinh thực khí đã định hình cách con người cảm nhận về đời sống và cái đẹp.
Yếu tố “tính nữ” là sợi chỉ vô hình đan xen xuyên suốt lịch sử nghệ thuật Việt, thể hiện trong quan niệm âm – dương, trong sự hòa hợp giữa cái mềm và cái cứng, giữa sinh và dưỡng. Tính nữ ở đây không chỉ là giới tính, mà là nguyên tắc mỹ học của sự hài hòa, dung dưỡng, -và tạo sinh. Từ hình tượng người mẹ trên trống đồng, tượng nữ thần trong đình chùa, đến sự “nữ hoá” Mẫu Liễu Hạnh, Quan Âm trong tín ngưỡng dân gian, ta nhận thấy một dòng năng lượng nữ giới bền bỉ, dịu dàng nhưng kiên cường và mang trong mình sức mạnh tái sinh, cứu rỗi. Nói cách khác, văn hoá Việt xưa nay đã luôn thấm nhuần tinh thần của tính nữ.
“Nàng thơ Đông Dương” (1925–1945): Khi tính nữ trở thành trung tâm thẩm mỹ
Thời kỳ Mỹ thuật Đông Dương (École des Beaux-Arts de l’Indochine, 1925–1945) đánh dấu bước ngoặt trong cách nhìn và diễn tả người phụ nữ. Ảnh hưởng của hội họa phương Tây gặp gỡ tinh thần Á Đông, tạo nên một hiện tượng “nàng thơ” mới – vừa hiện đại, vừa truyền thống. Ta có thể thấy, có rất nhiều tác phẩm tiêu biểu được ra đời trong giai đoạn này lấy tính nữ làm trung tâm của tính thẩm mỹ.
Tác phẩm Chơi ô ăn quan của Nguyễn Phan Chánh (1931).

Người phụ nữ trong tranh Nguyễn Phan Chánh hiện lên giản dị, gần gũi, gắn bó với sinh hoạt dân gian. Ở đây, phụ nữ không phải là đối tượng chiêm ngưỡng mà là không gian ký ức, nơi lưu giữ sự ấm áp, cần mẫn và cội nguồn của văn hóa Việt.
Tác phẩm “Thiếu nữ bên giàn trầu không” của Lê Phổ. Ảnh: Aguttes

Tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn nghệ thuật lụa đạt độ chín kỹ thuật, thể hiện sự tinh tế trong cách dùng mực và màu. Lê Phổ không chỉ kế thừa trường phái kiểu cách (Mannerism) với nét vẽ mềm mại mà còn sáng tạo khung cảnh mới, nhằm tôn vinh vẻ đẹp uyển chuyển và duyên dáng của người thiếu nữ Việt Nam thế kỷ 20.
Tác phẩm La Confidence (Tâm sự của phụ nữ) của Lê Thị Lựu (1938).

Là nữ họa sĩ tiên phong của Đông Dương, Lê Thị Lựu là một trong những nhen nhóm đầu tiên trong công cuộc đảo chiều ánh nhìn: thay vì miêu tả phụ nữ như một hình thể, bà khắc họa sự thân mật, sẻ chia giữa hai người phụ nữ.
Thời kỳ Đông Dương là “cuộc giao duyên của tính nữ”, nơi người phụ nữ được nhìn thấy qua lăng kính thẩm mỹ phương Tây nhưng vẫn giữ trọn sự duyên dáng, nhẫn nại và nội tâm Việt. Cái nhìn ấy vừa mới, vừa cũ; vừa mơ mộng, vừa tự sự.
Tính nữ trong kháng chiến, cách mạng và hậu cách mạng
Sau Cách mạng tháng Tám, mỹ thuật Việt Nam bước vào giai đoạn cách mạng hóa. Người phụ nữ không còn là hình tượng cá nhân mà trở thành biểu tượng tập thể, hiện thân của dân tộc, của ý chí và tinh thần tự cường. Tính nữ trong mỹ thuật giai đoạn này được đưa vào mỹ thuật qua những vai trò chiến sĩ, người lao động và người mẹ.
Tác phẩm Mùa lúa chín của họa sĩ Dương Bích Liên

Tác phẩm Giặc Mỹ của hoạ sĩ Đặng Thị Khuê (1980). Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Trong mỹ thuật giai đoạn này, tính nữ đi song hành cùng tính anh hùng trong công việc, trong chiến đấu, và trong sự hy sinh. Khi tinh thần tập thể được chiếu sáng xuyên suốt, phụ nữ không còn được nhìn qua cảm xúc cá nhân, mà qua lý tưởng cách mạng và giá trị cộng đồng.
Từ Đổi mới đến đương đại: Khi phụ nữ nhìn lại
Sau năm 1986, cùng với làn sóng toàn cầu hóa và tự do sáng tạo, các nữ nghệ sĩ Việt bắt đầu nắm lấy quyền được nhìn và được nói. Nay, họ vẽ từ bản ngã, bản năng và bản sắc của chính mình. Dù nghệ thuật nữ quyền tại Việt Nam chưa trở thành một “trào lưu” chính thống, song nó đã và đang âm thầm củng cố vai trò của người phụ nữ trong mỹ thuật đương đại qua những cái dám – dám nói, dám làm, dám trần trụi.
Tác phẩm Inside of us (Bên trong chúng ta) của Nguyễn Thị Châu Giang (2021). Ảnh: Wiking Salon.

Trong mỹ thuật giai đoạn này, tính nữ đi song hành cùng tính anh hùng trong công việc, trong chiến đấu, và trong sự hy sinh. Khi tinh thần tập thể được chiếu sáng xuyên suốt, phụ nữ không còn được nhìn qua cảm xúc cá nhân, mà qua lý tưởng cách mạng và giá trị cộng đồng.
Tác phẩm "on the clipped wings of hope, i said a prayer (2024)" - Mai Tạ. Ảnh: Vac Art.

Hình ảnh tác phẩm từ Triển lãm A "Second" Gaze tại Annam Gallery.

Trong mỹ thuật giai đoạn này, tính nữ đi song hành cùng tính anh hùng trong công việc, trong chiến đấu, và trong sự hy sinh. Khi tinh thần tập thể được chiếu sáng xuyên suốt, phụ nữ không còn được nhìn qua cảm xúc cá nhân, mà qua lý tưởng cách mạng và giá trị cộng đồng.
Lời kết
Từ quá khứ tới hiện tại, tính nữ trong mỹ thuật Việt Nam không chỉ phản chiếu thẩm mỹ của từng thời đại, mà còn là thước đo của tự do sáng tạo và ý thức xã hội. Nếu như tính nữ xưa là biểu tượng của cái đẹp và đạo đức, thì tính nữ trong mỹ thuật ngày nay là biểu tượng của sự tự do và tự ý thức. Từ “nàng thơ” đến “người kể chuyện”, được nhìn đến tự nhìn – đó chính là hành trình của sự thức dậy và tự soi mình bằng ánh sáng của bản thể nữ giới.
